Nếu Tâm được ví như vị vua trị vì, Can là vị tướng quân dũng mãnh, thì Tạng Thận chính là “Tiên thiên chi bản” – cội nguồn sinh mệnh của con người. Thận không chỉ đơn thuần là cơ quan bài tiết nước tiểu như góc nhìn của giải phẫu học hiện đại, mà nó còn tàng trữ nguồn năng lượng nguyên thủy nhất, quyết định toàn bộ quá trình sinh trưởng, phát triển, sinh sản và lão hóa của cơ thể. Trong thuyết Ngũ Hành, Thận thuộc hành Thủy, mang đặc tính tàng trữ, hướng xuống, tĩnh lặng và nuôi dưỡng vạn vật.
Chức năng của tạng thận


Hệ thống chức năng của Thận cực kỳ rộng lớn, chi phối từ cốt tủy, trí não cho đến sinh lực của con người: Thận chủ về tàng tinh, chủ cốt tuỷ, chủ về sinh dục và phát dục của cơ thể, chủ nạp khí, chủ thuỷ, khai khiếu ra tai, tiền âm, hậu âm và vinh nhuận ra tóc.
Thận tàng tinh, chủ về sinh dục và phát dục của cơ thể
Tinh của tiên thiên và tinh của hậu thiên đều được tàng trữ ở thận gọi là thận tinh. Tinh biến thành khí nên còn có thận khí.
Thận tinh còn gọi là thận dương, nguyên dương, chân dương, mệnh môn hoả. Thận tinh và thận khí quyết định sự sinh dục và phát dục của cơ thể từ lúc nhỏ tới già như mọc răng, tuổi trưởng thành sinh con cái (gọi là thiên quý thịnh) và lão suy (thiên quý suy)
Như trong sách Nội kinh có nói: “con gái 7 tuổi thì thiên quý thịnh, răng thay tóc dài, 14 tuổi thì thiên quý đến mạch nhâm thông với mạch xung, vì vậy lúc đó người con gái thấy kinh. Thường đời người con gái có 7 thiên quý ( 7×7 = 49) lúc đó mạch nhâm yếu, mạch xung kém, thiên quý cạn hết, kinh nguyệt không còn, nên thân thể yếu đuối.
Con trai lúc 8 tuổi thận khí thực, tóc tốt, răng thay, 16 tuổi thận khí thịnh thiên quý đến, tinh khí đầy 24 tuổi thận khí điều hoà, thân thể cường tráng mạnh khoẻ, 64 tuổi thận khí kém, tóc rụng, răng khô, lục phủ ngũ tạng đều suy yếu, thiên quý cạn nên râu tóc bạc, người mệt mỏi…”
Thận âm và thận dương, nương tựa vào nhau, chế ước lễ nhau giữ thế bình quân về âm dương. Nếu thận hư không có hiện tượng hàn hay nhiệt thì gọi là thận tinh hư hay thận khí hư. Nếu có hiện tượng nội nhiệt là do thận âm hư. Nếu có hiện tượng ngoại hàn (sợ lạnh, tay chân lạnh) là do thận dương hư.
Chủ về khí hoá nước.
Thận khí có chức năng khí hoá nước tức là đem nước do đồ ăn uống đưa tới nước cho tổ chức cơ thể và bài tiết nước ra ngoài.
Sự chuyển hoá nước trong cơ thể do 3 tạng phụ trách: tỳ vận hoá hấp thu đưa lên phế, phế túc giáng xuống thận, ở thận được khí hoá những chất trong (có ích) được lên phế phân bố đi toàn thân, những chất đục được đưa xuống bàng quang thải ra ngoài.
Vì vậy trên lâm sàng, căn cứ vào vị trí trở ngại, người ta chữa chứng phù thũng ở tỳ, ở phế hay ở thận.
Chủ về xương, tuỷ, thông với não và vinh nhuận ra tóc
Tinh được tàng trữ ở thận, tinh sinh tuỷ, tuỷ vào trong xương, nuôi dưỡng xương, nên gọi là thận chủ cốt sinh tuỷ. Nếu thận hư, làm sự phát dục của cơ thể giảm sút gây hiện tượng chậm mọc răng, chậm biết đi, xương mềm yếu…
Tuỷ ở cột sống lên não, thận sinh tuỷ, nên gọi là thận thông với não, không ngừng bổ sung tinh tuỷ cho não. Thận hư (thường do thiên nhiên) làm não không phát triển sinh các chứng: trí tuệ chậm phát triển, tinh thần đần độn, kém sự thông minh…
Huyết do tinh sinh ra, tinh tàng trữ ở thận, tóc là sản phẩm “thừa ra” của huyết, được huyết nuôi dưỡng, vì vậy thận là căn nguyên sinh ra tóc. Sự thịnh suy của thận có quan hệ mật thiết với tóc như bẩm sinh thận khí bất túc thì tóc mọc thưa thớt, thanh niên khoẻ mạnh thì tóc tốt nhuận, người già thận khí yếu thì tóc bạc, rụng tóc….vì vậy nói: thận vinh nhuận ra ở tóc.
Các mối liên hệ của tạng thận
Nạp khí
Không khí do phế hít vào được giữ lại ở thận gọi là sự nạp khí của thận.
Nếu thận hư không nạp được phế khí làm phế khí nghịch lên gây chứng ho hen, khó thở. Trên lâm sàng người ta chữa chứng hen suyễn, chứng ho ở người già, bằng phương pháp bổ thận nạp khí.
Khai khiếu ra tai và tiền âm, hậu âm
Tai do thận tinh nuôi dưỡng, thận hư sẽ gây tai ù, tai điếc. Ở người già thận khí, thận tinh suy yếu nên hay gặp chứng tù tai, điếc.
Tiền âm là nơi bài tiết nước tiểu, bộ phận sinh dục nam hay nữ, thận chủ về khí hoá bài tiết nước tiểu và sự sinh dục vì vậy gọi là thận chủ về hậu âm. Thận hư hay gặp chứng đi tiểu luôn ở người già, chứng đái dầm ở trẻ em chứng di tinh, ra khí hư…
Hậu âm là nơi đại tiện ra phân, do tạng tỳ đảm nhiệm. Nhưng tỳ dương được thận khí hoá để bài tiết phân ra ngoài nên còn gọi là thận chủ về hậu âm. Nếu thận khí hư hay gặp chứng đại tiện lỏng, đại tiện ở người già.
Hậu âm và tiền âm thường quản lý đại tiện và tiểu tiện nên còn nói “thận chủ nhị tiện”.
Mối liên hệ giữa tạng thận và cảm xúc
Đông Y có câu: “Khủng tắc khí hạ” (Sợ hãi làm cho khí bị hãm xuống, chìm xuống dưới). Khi một người trải qua sự sợ hãi tột độ, hoảng loạn hoặc kinh hãi bất ngờ, khí huyết trong cơ thể thay vì lưu thông bình thường sẽ bị dồn ép tụt xuống phần dưới cơ thể, làm rối loạn chức năng của Thận. Nếu sống trong một môi trường luôn phải lo âu, nơm nớp lo sợ, bất an kéo dài, Thận tinh sẽ dần bị bào mòn, dẫn đến suy nhược cơ thể, rụng tóc, ù tai và suy giảm sinh lý.
Thận yếu sinh ra tâm lý nhút nhát, dễ hoảng sợ. Người bị Thận hư thường rất nhát gan, thiếu tự tin, hay giật mình, nơm nớp lo sợ vô cớ dù không có mối đe dọa nào thực sự. Họ hay gặp ác mộng, sợ bóng tối, sợ tiếng động mạnh và khó giữ được sự bình tĩnh trước áp lực.
“Thận tàng Chí”. “Chí” ở đây chính là ý chí, nghị lực, sự kiên định và dũng khí vươn lên.
- Khi Thận khí sung mãn: Nguồn năng lượng nguyên thủy dồi dào, tủy não được nuôi dưỡng tốt. Con người sẽ có một tinh thần mạnh mẽ, trí tuệ minh mẫn, lòng can đảm lớn, dám nghĩ dám làm và có tính kiên trì, theo đuổi mục tiêu đến cùng không biết mệt mỏi.
- Khi Thận khí suy kém: Chữ “Chí” cũng theo đó mà phai nhạt. Người bệnh trở nên bạc nhược, lười biếng, dễ nản lòng thoái chí, thiếu động lực vươn lên trong cuộc sống và thường trực cảm giác sợ thất bại.
Mối liên hệ giữa tạng thận và ngũ hành
| Yếu tố | Đặc điểm của Tạng Thận | Ý nghĩa |
| Ngũ hành | Thuộc Thủy | Biểu tượng cho sự tĩnh lặng, tàng trữ, mềm mại nhưng chứa đựng sức mạnh ngầm to lớn, tưới tẩm và nuôi dưỡng vạn vật. |
| Mùa | Mùa Đông | Mùa đông vạn vật bế tàng, là thời điểm Thận khí vượng nhất và cũng là lúc cơ thể cần thu liễm, tàng trữ tinh khí, dưỡng Thận tốt nhất. |
| Màu sắc | Màu Đen | Các thực phẩm có màu đen hoặc sẫm màu (đỗ đen, mè đen, hà thủ ô, kỷ tử đen…) thường mang lại tác dụng bổ Thận tinh huyết rất tốt. |
| Vị giác | Vị Mặn | Vị mặn đi vào Thận. Dùng một lượng muối mặn vừa phải giúp dẫn thuốc vào Thận, nhưng ăn quá mặn sẽ làm tổn thương Thận Thủy, gây ảnh hưởng đến huyết áp và tạng Tâm. |
| Tình chí | Khủng (Sợ hãi) | Sự sợ hãi, kinh hãi tột độ làm khí hãm xuống, gây tổn thương tạng Thận (Khủng thương Thận). Trẻ em sợ hãi quá mức dễ đái dầm là do Thận khí không giữ được. |
| Biểu lý | Bàng quang | Có đường kinh mạch kết nối trực tiếp. Thận chi phối sự đóng mở của Bàng quang trong việc lưu trữ và bài tiết nước tiểu. |
Ngoài ra, thận thuỷ còn sinh ra can mộc và khắc tâm hoả, có quan hệ biểu lý với bàng quang.
- Phế Kim sinh Thận Thủy: Phế khí thanh túc dội xuống giúp Thận nạp khí và thủy dịch.
- Thận Thủy sinh Can Mộc: Thận Thủy nuôi dưỡng, làm mát Can Mộc, tránh để Can hỏa vượng.
- Tỳ Thổ khắc Thận Thủy: Tỳ vị cản trở sự ứ đọng nước bậy bạ của Thận.
- Thận Thủy khắc Tâm Hỏa: Thận âm dâng lên để kìm hãm, làm mát Tâm hỏa, giúp cơ thể đạt trạng thái “Thủy Hỏa ký tế” (nước và lửa giao hòa).
- Thận và Bàng quang có quan hệ biểu lý.
Lời kết
Nếu tạng Can là nơi quản lý cảm xúc và sự linh hoạt, thì tạng Thận chính là chiếc mỏ neo giữ lấy sinh khí gốc rễ của một con người. Trong nghiên cứu Đông y, duy trì sự cân bằng của âm dương, khí huyết đều phải bắt nguồn từ việc bảo vệ Thận tinh.
Dưỡng Thận không chỉ là uống các loại thảo dược bổ dưỡng, mà là một lối sống biết “tàng trữ”: làm việc chừng mực, tránh lao lực quá độ, giữ gìn giấc ngủ, điều tiết sinh hoạt phòng the và duy trì một tâm trí bình ổn, không lo âu sợ hãi. Nắm vững nguyên lý của tạng Thận chính là nắm được chiếc chìa khóa vàng để khai mở một nền tảng thể chất vững chắc, trí tuệ minh mẫn và một tuổi thọ viên mãn.

