Bất nội ngoại nhân – Những nguyên nhân gây bệnh do cuộc sống thường ngày

bất nội ngoại nhân - Những nguyên nhân gây bệnh khác

Ngoài ngoại nhân (Nguyên nhân gây bệnh bên ngoài do yếu tố khí tiết) và nội nhân (Nguyên nhân gây bệnh bên trong do cảm xúc) thì Bất nội ngoại nhân – Những nguyên nhân không thuộc về thời tiết, cũng không phải do cảm xúc cũng là một trong những nguyên nhân gây bệnh theo y học cổ truyền. Nhóm thứ 3 này bao gồm những thói quen sinh hoạt, ăn uống và tai nạn hàng ngày. Nhóm này tuy bình dị nhưng lại là thủ phạm chính gây ra hầu hết các căn bệnh mãn tính của người hiện đại. Dưới đây là phân tích chi tiết về các nguyên nhân này.

Ẩm Thực Thất Điều (Sai lầm trong ăn uống)

YHCT quan niệm “Tỳ Vị là gốc của hậu thiên”, tức là dạ dày và lá lách là cội nguồn cung cấp dinh dưỡng nuôi cơ thể. Khi ăn uống sai cách, Tỳ Vị sẽ là cơ quan đầu tiên gánh chịu hậu quả.

  • Ăn uống không điều độ: Ăn quá no sẽ làm dạ dày đình trệ, thức ăn ứ đọng sinh ra nhiệt và đàm ẩm (đầy bụng, ợ chua, béo phì). Ngược lại, ăn quá đói hoặc bỏ bữa khiến cơ thể không sinh đủ Khí Huyết, dẫn đến suy nhược, mệt mỏi, hoa mắt chóng mặt.
  • Thiên lệch mùi vị: YHCT chia thức ăn thành 5 vị (Chua, Cay, Mặn, Ngọt, Đắng), mỗi vị đi vào một tạng nhất định. Nếu ăn quá thiên lệch một vị sẽ làm tổn thương tạng đó. Ví dụ: Ăn quá nhiều đồ cay nóng (tỏi, ớt, rượu) sẽ tích nhiệt ở dạ dày gây lở loét, táo bón; ăn quá nhiều đồ ngọt gây thấp trệ (tích nước, béo phì); ăn quá mặn sẽ hại Thận, tổn thương huyết mạch (tăng huyết áp).
  • Thức ăn không sạch sẽ, ôi thiu: Ăn phải đồ sống lạnh, nhiễm khuẩn sẽ gây rối loạn tiêu hóa, nôn mửa, tiêu chảy, kiết lỵ hoặc nhiễm ký sinh trùng.

Lao Dật Thất Độ (Mất cân bằng giữa làm việc và nghỉ ngơi)

“Lao” là lao động (thể lực, trí óc), “Dật” là nhàn rỗi, nghỉ ngơi. Cả hai yếu tố này nếu thái quá đều sinh ra bệnh.

  • Lao động thể lực quá sức: Làm việc nặng nhọc liên tục vắt kiệt thể lực, làm tổn thương gân cốt và tiêu hao “Khí”. Người bệnh thường có biểu hiện rã rời, thở đoản, sụt cân, thoái hóa khớp sớm.
  • Lao động trí óc quá độ: Suy nghĩ, tính toán liên tục (như dân văn phòng, học sinh mùa thi) sẽ vắt kiệt Tâm huyết và Tỳ khí. Dẫn đến hay quên, mất ngủ, hồi hộp, chán ăn, dạ dày co thắt.
  • Phòng lao quá độ: Tức là sinh hoạt tình dục quá mức. Theo YHCT, điều này làm tổn thương trực tiếp đến Thận tinh. Thận tinh cạn kiệt gây đau lưng, mỏi gối, ù tai, rụng tóc, suy giảm trí nhớ và chức năng sinh lý.
  • Quá nhàn rỗi (Quá dật): Lười vận động, ngồi hoặc nằm quá lâu làm cho Khí Huyết ngưng trệ, không lưu thông. Đây là nguồn gốc của các bệnh béo phì, trì trệ, tuần hoàn máu kém, nhức mỏi cơ bắp và hệ miễn dịch suy yếu. Người xưa có câu: “Cửu tọa thương nhục” (Ngồi lâu tổn thương cơ bắp).

Chấn Thương & Tác Nhân Vật Lý (Kim khí, trùng thú cắn)

Nhóm này bao gồm các yếu tố tác động vật lý từ bên ngoài lên cơ thể.

  • Chấn thương cơ học: Tai nạn giao thông, ngã, va đập, mang vác sai tư thế gây bong gân, trật khớp, gãy xương. Chấn thương làm đứt đoạn sự lưu thông của kinh lạc, gây ra “Huyết ứ” và “Khí trệ” tại chỗ, biểu hiện bằng đau nhức dữ dội, sưng tím.
  • Thú dữ, côn trùng cắn, bỏng: Nọc độc từ rắn, rết, ong… xâm nhập vào cơ thể làm rối loạn khí huyết, sinh ra các chứng sưng tấy, uất nhiệt, nếu nặng có thể đe dọa tính mạng. Bỏng (do lửa, nước sôi) làm hao tổn tân dịch (nước trong cơ thể), gây nhiễm độc nội tạng.

Sản Phẩm Bệnh Lý Trở Thành Nguyên Nhân Gây Bệnh

Đây là một khái niệm rất độc đáo trong YHCT. Đàm ẩm và Huyết ứ ban đầu là hậu quả của các rối loạn trong cơ thể, nhưng khi đã hình thành, chúng lại trở thành nguyên nhân tiếp tục gây ra các bệnh lý mới nặng nề hơn.

  • Đàm Ẩm: Không chỉ là đờm trong cổ họng, Đàm ẩm trong YHCT là những chất dịch đục, cặn bã tích tụ do Tỳ Vị tiêu hóa kém (thường do ăn nhiều đồ béo ngọt, lười vận động). Đàm chạy đến đâu gây bệnh đến đó: Đàm đi lên đầu gây chóng mặt (tiền đình); đàm nằm ở ngực gây khó thở, hen suyễn; đàm tích dưới da tạo thành mỡ thừa, u mỡ.
  • Huyết Ứ: Là máu huyết lưu thông kém, ứ đọng lại một chỗ (do chấn thương, khí trệ, hoặc lạnh làm máu đông lại). Huyết ứ sinh ra các cơn đau châm chích, cố định một chỗ, hình thành các khối u, nang, hoặc gây nhồi máu cơ tim, tai biến mạch máu não.

Đàm ẩm

Đàm là chất đặc, ẩm là chất loãng, đàm ẩm sau khi sinh ra gây các chứng bệnh mới, đặc biệt phạm vi gây bệnh của đàm rất rộng (không phải chỉ có ho khạc ra đờm)

  • Đàm ẩm là sản phẩm bệnh lý: Đàm là chất đặc, ẩm là chất loãng, đàm ẩm sau khi sinh ra gây các chứng bệnh mới, đặc biệt phạm vi gây bệnh của đàm rất rộng ( không phải chỉ có ho khạc ra đờm).
  • Nguồn gốc: Đàm là ẩm do tân dịch ngưng tụ biến hoá thành. Do lục dâm, thất tình làm cơ năng của ba tạng tỳ, phế, thận bị ảnh hưởng, tân dịch không phân bố và vận hành được ngưng tụ thành thấp, thấp hoá thành đàm ẩm.
  • Đàm ẩm sau khi hình thành: Theo khí đi các nơi ở ngoài đến cân xương trong đến phủ tạng, không đâu không đến, làm ảnh hưởng đến sự vận hành khí huyết, sự thăng giáng của khí mà gây các chứng ở các bộ phận cơ thể.

Triệu chứng của đàm ẩm ở các bộ phận cơ thể như sau.

a) Đàm.

  • Phế: hen suyễn, khạc ra đờm.
  • Tâm: Tâm quý, điên cuồng.
  • Vị: Lợm giọng, nôn mửa.
  • Ngực: Tức ngực mà suyễn.
  • Kinh thiếu dương: Gây sốt rét.

b) Ẩm.

  • Tràn ra cơ nhục.
  • Ra ngực sườn: Gây ho, hen suyễn.
  • Ở tiêu hoá: Gây sôi bụng, miệng khô, bụng đầy, ăn kém.

Những chứng bệnh hay gây ra đàm ẩm.

a) Đàm.

  • Phong đàm: Chứng trúng phong đàm: Hoa mắt, chóng mặt; đột nhiên ngã, khò khè, miệng méo, mắt lệch, lưỡi cứng không nói, hoặc chứng đột nhiên ngã, hôn mê, sùi bọt mép ( động kinh).
  • Nhiệt đàm: Phiền nhiệt, táo bón, đầu mặt nóng, đau họng, điên cuồng.
  • Hàn đàm: Đau xương dữ dội, tay chân không cử động, ho ra đờm lỏng, mạch trầm trì.
  • Thấp đàm: Người nặng nề, yếu, mệt mỏi.
  • Loa dịch: Lao hạch thường ở gáy, nách, bẹn, thành khối, hạch không nóng không đau, ra chất bã đậu, khi vỡ loét khó liền miệng.

b) Ẩm.

  • Huyền ẩm: Đau mạng sườn, ho khó thở, đau liên sườn hay gặp ở bệnh màng phổi có nước.
  • Yên ẩm: Đau người và nặng nề, tay chân phù, hen suyễn, không có mồ hôi, sợ lạnh.
  • Hen suyễn không nằm được, mặt phù.

Ứ huyết.

 Ứ huyết là sự vận hành khí huyết không thông, sung huyết ở cục bộ, hay chảy máu ở cục bộ. Nguyên nhân do khí hư, khí trệ khiến cho huyết ngưng trệ, hoặc chảy máu ở trong cơ thể.

 Những triệu chứng biểu hiện ứ huyết:

  • Đau, thường là do sung huyết gây chèn ép, tính chất đau cố định một chỗ, gây cự án.
  • Sưng, thành khối, hay gặp ở các bệnh ngoại khoa ( gẫy xương, ngã….) hoặc ứ huyết ở các phủ tạng.
  • Chảy máu do thoát quản hay gặp đại tiện, tiểu tiện ra máu, chảy máu do rong huyết, rong kinh….
  • Ngoài ra còn tìm các triệu chứng chảy máu dưới da, chất lưỡi tím hoặc có điểm ứ huyết, mạch tế sáp.

Lời kết

Nhìn vào nhóm “Bất nội ngoại nhân“, chúng ta thấy rõ một thông điệp: Bệnh tòng khẩu nhập, Họa tòng tâm xuất (Bệnh từ miệng mà vào, Họa từ tâm mà ra). Hầu hết các bệnh tật của thời hiện đại (tiểu đường, mỡ máu, dạ dày, thoái hóa khớp) đều xuất phát từ việc mất kiểm soát trong mâm cơm, bàn làm việc và lịch sinh hoạt hàng ngày. Việc làm chủ lối sống chính là nấc thang đầu tiên của y đạo phòng bệnh.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

error: Content is protected !!