Đứng trước sự kỳ diệu và phức tạp của cơ thể con người, Y học cổ truyền phương Đông từ hàng ngàn năm nay luôn vận hành dựa trên một triết lý cốt lõi, vĩ đại và bao trùm: Học thuyết Âm Dương. Không chỉ dừng lại ở lăng kính triết học dùng để giải mã vũ trụ bao la, Âm – Dương còn là “kim chỉ nam” xuyên suốt trong việc thấu hiểu cấu tạo sinh lý, lý giải nguyên nhân gây bệnh và đề ra nguyên tắc điều trị. Khám phá học thuyết Âm Dương trong y học cổ truyền không chỉ giúp chúng ta hiểu hơn về cội nguồn của nền y lý phương Đông, mà còn mở ra một góc nhìn sâu sắc về cách người xưa duy trì trạng thái “cân bằng hoàn hảo” mang tên sức khỏe.
Âm Dương trong cấu tạo cơ thể và sinh lý
- Dương: Phủ, kinh dương, khí, lưng, ngoài, trên v.v…Cơ năng hoạt động thuộc dương
- Âm: tạng, kinh âm, huyết, bụng, trong, dưới v.v… Vật chất dinh dưỡng thuộc âm.
Ta còn có:
- Phủ thuộc dương như vì tính chất “trong dương có âm” nên có vị âm và vị hoả…
- Tạng (Nội tạng) thuộc âm. Do tính chất “trong âm có dương” nên còn phân ra phế âm, phế khí, thận âm, thận dương, can huyết, can khí, tâm huyết, tâm khí.
Âm Dương trong quá trình phát sinh và phát triển của bệnh tật
Sự mất cân bằng về âm dương trong cơ thể
Bệnh tật phát sinh ra do sự mất thăng bằng về âm dương trong cơ thể được biểu hiện bằng thiên thắng hay thiên suy:
- Thiên thắng: dương thắng gây chứng nhiệt: sốt, mạch nhanh, khát nước, táo, nước tiểu đỏ, ấm thắng gây chứng hán: người lạnh, tay chân lạnh, mạch trậm, ỉa lỏng nước tiểu trong v.v…
- Thiên suy: dương hư như các trường hợp não suy, hội chứng hưng phấn thần kinh giảm, âm hư: như mất nước, điện giải, hội chứng ức chế thần kinh giảm.
Quá trình chuyển hóa âm dương của bệnh tật
Trong quá trình phát triển của bệnh, tính chất của bệnh còn chuyển hoá lẫn nhau giữa hai mặt âm dương.
- Bệnh ở phần dương ảnh hưởng tới phần âm (dương thắng tắc âm bệnh). Thí dụ sốt cao kéo dài sẽ gây mất nước.
- Bệnh ở phần âm ảnh hưởng tới phần dương (âm thắng tắc dương bệnh). Thí dụ ỉa lỏng, nôn mửa kéo dài mất nước, điện giả làm nhiễm bệnh thần kinh, gấy sốt, co giật thậm trí gây truỵ mạch (thoát dương).
Quá trình phát triển âm dương của bệnh tật
Sự mất thăng bằng của âm dương gây ra những chứng bệnh ở những vị trí khác nhau của cơ thể tuỳ theo vị trí đó ở phần âm hay dương.
- Dương thịnh sinh ngoại nhiệt: sốt, người và tay chân nóng, vì phần dương của cơ thể thuộc biểu, thuộc nhiệt.
- Âm thịnh sinh nội hàn: ỉa chảy, người sợ lạnh, nước tiểu trong dài vì phần âm thuộc lý thuộc hàn.
- Âm hư sinh nội nhiệt: như mất nước, tân dịch giảm gây chứng khát nước, họng khô, táo, nước tiểu đỏ v.v…
- Dương hư sinh ngoại hàn: sợ lạnh, tay chân lạnh vì phần dương khí ở ngoài bị giảm sút.
Âm Dương trong chẩn đoán bệnh tật
- Dựa vào 4 phương pháp khám bệnh: nhìn (vọng), nghe (văn), hỏi (vấn), sờ nắm, xem mạch (thiết) để khai thác các triệu chứng thuộc hàn hay nhiệt, hư hay thực của các tạng phủ kinh lạc.
- Dựa vào 8 cương lĩnh: để đánh giá vị trí nông sâu của bệnh, tính chất của bệnh, trạng thái người bệnh và xu thế chung nhất của bệnh tật (biểu lý, hư thực, hàn nhiệt và âm dương) trong đó âm và dương là 2 cương lĩnh tổng quát nhất gọi là tổng cương: thường bệnh ở biểu, thực, nhiệt thuộc dương; bệnh ở lý, hư, hàn thuộc âm.
- Dựa vào tứ chẩn: để khai thác triệu chứng và căn cứ vào bát cương bệnh tật được quy thành các hội chứng thiên thắng hay thiên suy về âm dương của các tạng phủ, kinh lạc v.v…
Âm Dương trong việc chữa bệnh và các phương pháp chữa bệnh
Chữa bệnh bằng âm dương là điều hoà lại sự mất thăng bằng về âm dương của cơ thể tuỳ theo tình trạng hư thực, hàn, nhiệt của bệnh bằng các phương pháp khác nhau: thuốc, châm cứu, xoa bóp, khí công v.v…
Về thuốc được chia làm hai loại:
- Thuốc có đặc tính âm: Thuốc lạnh, mát (hàn, lượng) thuộc âm để chữa bệnh nhiệt thuộc dương.
- Thuốc có đặc tính dương: nóng, ấm (nhiệt, ôn) thuộc dương để chữa bệnh hàn thuộc âm.
Về châm cứu, ta có:
- Bệnh nhiệt dùng châm, bệnh hàn dùng cứu; bệnh hư thì bổ, bệnh thực thì tả.
- Bệnh thuộc tạng (thuộc âm) thì dùng các huyệt Du sau lưng (thuộc dương); bệnh thuộc phủ (thuộc dương) thì dùng các huyệt Mộ ở ngực, bụng (thuộc âm), theo nguyên tắc: “theo dương dẫn âm, theo âm dẫn dương”.
Khép lại, có thể khẳng định rằng Học thuyết Âm Dương chính là linh hồn của Y học cổ truyền, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt mọi học lý từ cấu tạo cơ thể, sinh lý, bệnh lý cho đến các phương pháp chẩn trị. Vượt ra khỏi ranh giới của những phương thang hay cây kim châm cứu, triết lý này còn mang đến một thông điệp vô giá về nghệ thuật sống: Bệnh tật bắt nguồn từ sự thiên lệch, và sức khỏe đích thực chỉ có được khi cơ thể đạt trạng thái cân bằng hài hòa. Dù y học hiện đại đã tiến những bước rất xa, nhưng tư tưởng “bình hòa Âm Dương” vẫn luôn giữ nguyên vẹn giá trị, nhắc nhở chúng ta về tầm quan trọng của việc sống nương theo tự nhiên để nuôi dưỡng cả thể chất lẫn tinh thần.

